Thứ Sáu, 11/11/2011 11:13

“Ngành ngoài” của doanh nghiệp nhà nước?

Việc chấn chỉnh và hạn chế đầu tư ra ngoài ngành của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang nóng lên không kém gì khi các tập đoàn được khuyến khích đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực.

Chỉ trong một khoảng thời gian không dài (giai đoạn 2008-2011), chủ trương đối với việc đầu tư ngoài ngành của DNNN thay đổi khác biệt hoàn toàn. Nền kinh tế, hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý nhà nước sẽ có những hệ lụy nhất định.

Trước hết, phải đặt câu hỏi tại sao trong giai đoạn trước đây, chúng ta lại cổ vũ cho sự phát triển các tập đoàn đa ngành, đa nghề để làm thế “ỷ giốc” trong kinh doanh?

Năm 2008 trở về trước, nền kinh tế thế giới đã có nhiều bài học về việc phát triển các tập đoàn kinh tế theo mô hình đa ngành là không phù hợp. Cụ thể, Samsung, LG hay Daewoo đã phải thay đổi chiến lược kinh doanh từ đa ngành sang tập trung vào “năng lực lõi”. Tuy nhiên, khi đó, có vẻ như những bài học về việc sụp đổ hay các kế hoạch tái cấu trúc các tập đoàn đa ngành trên thế giới dường như không tác động đến sự cổ vũõ cho chiến lược đa ngành của các tập đoàn nhà nước của Việt Nam.

Chính vì vậy, khi câu chuyện hạn chế ngoài ngành được đặt ra, thì vấn đề phải làm rõ là việc ban hành một quy định pháp luật nhằm hạn chế đa ngành có tác dụng thực tiễn không? Nếu có thì quy định đó có đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn không?

Để trả lời được câu hỏi trên, phải mổ xẻ khía cạnh pháp lý liên quan đến phát triển đa ngành của DNNN.

Thứ nhất, cần phải xác định “ngành chủ lực” hay “năng lực lõi” của tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN.

Đây là một việc khó nhưng là căn bản để giải quyết được mục tiêu hạn chế đa ngành. Hoạt động kinh doanh ở Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của cơ chế đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp được phép kinh doanh theo những ngành nghề đã đăng ký với nhà nước. Trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của các tập đoàn, DNNN, danh mục ngành nghề rất dài và đa dạng. Cũng phải nói thêm là, danh mục này đã được Thủ tướng Chính phủ, bộ chủ quản chấp thuận trong quyết định thành lập.

Như vậy, khi DNNN kinh doanh đa ngành là có căn cứ, thì câu hỏi lĩnh vực này có bị giới hạn bởi một tỷ lệ phần trăm nào đó không? Hay chỉ giới hạn ở ngành nghề doanh nghiệp không đăng ký?

Bởi, nếu hạn chế ngành nghề đăng ký kinh doanh của DNNN thì có thể làm khó cho họ nếu như ngành nghề bị hạn chế lại phục vụ cho hoạt động kinh doanh chính, ví dụ: hoạt động “đào tạo” của ngành điện lực là phục vụ cho “đào tạo công nhân, cán bộ kỹ thuật ngành điện…”. Như vậy, cơ chế thành lập tập đoàn, DNNN và cơ chế đăng ký kinh doanh cần phải được xem xét lại toàn diện.

Hai là, cần phải xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu là “vốn hữu hình” hay bao gồm cả “vốn vô hình” như thương hiệu của tập đoàn, DNNN. Tỷ lệ 15% hay 30% có thể trở thành vô nghĩa nếu như không xác định được giá trị vốn này. Cũng có ý kiến cho rằng, đầu tư bằng thương hiệu không gây hậu quả về vốn, nhưng bài học Vinashin về đầu tư dàn trải bằng thương hiệu trong quá khứ đã gây những hậu quả xã hội chưa lường hết được. Thị trường bị mất niềm tin vào thương hiệu của DNNN…

Ba là, hạn chế đầu tư ngoài ngành có thể dẫn đến khả năng rút vốn ồ ạt khỏi các doanh nghiệp khác. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bị rút vốn lấy đâu ra số vốn để bù lại hay chấp nhận bị hẫng hụt. Người dân, doanh nghiệp có thể bị mất niềm tin vào thị trường, năng lực quản lý của nhà nước và tính ổn định của hệ thống pháp luật.

Bên cạnh đó, cơ chế thoái vốn của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước khỏi một số ngành cũng cần phải được thiết kế rõ ràng, minh bạch về trình tự, thủ tục. Nếu cơ chế không được thiết kế tốt, có thể dẫn đến hệ quả là, những thuận lợi, ưu đãi, thậm chí cả dòng vốn đầu tư sẽ chảy từ “nhà nước” ra “tư nhân” mà chỉ có một số nhóm lợi ích được hưởng.

Tóm lại, yêu cầu cơ cấu lại hoạt động kinh tế của tập đoàn, DNNN là cần thiết song phải được thực hiện một cách thận trọng và có sự đánh giá nghiêm túc những tác động, hệ lụy về kinh tế, pháp lý cho tập đoàn, DNNN nói riêng và tới môi trường kinh doanh, hệ thống pháp luật nói chung.

Luật sư Nguyễn Hưng Quang

đầu tư

Các tin tức khác
  • Dự án giảm thất thoát nước trị giá 44 triệu USD: Vì sao không về đích đúng thời hạn? (11/11/2011)
  • Xuất khẩu “đổi chiều” ở nhóm hàng gia công (11/11/2011)
  • DN Nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng (11/11/2011)
  • Một doanh nghiệp sinh ra để... lỗ (11/11/2011)
  • Món nợ nước ngoài của Vinashin (11/11/2011)
  • Bộ Tài chính trả lời chất vấn về giá xăng và điện (11/11/2011)
  • Hậu quả vụ án không chỉ dừng lại ở Vinashin (11/11/2011)
  • Xuất khẩu 2012: Ám ảnh về vốn và thị trường (11/11/2011)
  • VTC sẽ tiếp tục thương vụ mua EVN Telecom (11/11/2011)
  • VAMA kiến nghị Thủ tướng can thiệp (11/11/2011)